Tìm hiểu văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương (TT)

22/01/2015

                                 Người mẹ của Tổ Đạo Trung Thiện Hiếu

            “Tổ Đạo Trung Thiện Hiếu là người con chí hiếu. Khi ngài rời quê xuất gia tu học, mẹ ngài vì nhớ con đã lặn lội tìm đến chùa. Tổ biết đó là mẹ mình nên nhận vào chùa và cho làm công quả. Nhưng vì sợ mẹ mình biết ngài là con, bà sẽ có thái độ xem thường tăng chúng trong lúc công quả, nên tổ không cho biết. Trong thời gian bà ở đây, tổ thường dặn dò tăng chúng chăm sóc cụ bà khi ngài có Phật sự đi vắng. Mỗi tối, khi đại chúng tịnh rồi, ngài âm thầm giặt đồ cho mẹ. Khi cụ lâm chung, Tổ Đạo Trung Thiện Hiếu mới công bố trước đại chúng đây là mẹ của mình. Và khi qua đời, tổ đứng ra lo an táng chôn cất trong khuôn viên chùa. Ngày nay, mộ cụ được chôn gần tháp của tổ phía sau Chùa Long Hưng”[28]

Khi mẹ mình tìm đến chùa, ngài đã là một nhà sư nổi tiếng, uyên thâm phật pháp, được mọi người kính nể. Việc ngài âm thầm bảo người chăm sóc cho bà khi đi xa, tự tay sư giặt giũ quần áo mỗi tối đã thể hiện được tinh thần hiếu đạo. Theo đạo Phật, hạnh hiếu rất quan trọng và tôn giáo này cho rằng việc tín đồ chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ chính là kính thờ các bậc hiền thánh, chư Phật. Tuy nhiên, đợi đến khi cụ bà lâm chung, ngài mới loan báo đó là mẹ mình. Tổ Đạo Trung Thiện Hiếu đã làm được tinh thần đại hiếu mà nhà Phật luôn chủ trương. Là một cao tăng được nhiều người trọng vọng, khi biết mẹ mình xin tá túc trong chùa, nếu ngài vui mừng tiếp đón sẽ làm cho bà chẳng may sanh tâm cao ngạo, ỷ lại, đặc biệt là coi thường tăng chúng. Đạo Phật nhấn mạnh trọng Phật thì phải kính tăng. Để cụ trong chùa, ngày đêm công quả, một lòng hướng về Phật pháp, tôn kính tam bảo chính là sư đã giúp mẹ mình ngày ngày vun bồi thiện nghiệp, tạo được nhân lành. Khác với người tiểu hiếu đơn thuần chỉ là phụng dưỡng vật chất cho đấng sinh thành, người đại hiếu theo cách hiểu của đạo Phật: “Phật bảo các thầy sa môn: Xem người thế gian không có hiếu thảo, chỉ thế này mới gọi là hiếu: Hãy khuyên cha mẹ bỏ ác làm lành, thọ tam qui, giữ ngũ giới. Dù cha mẹ sớm mai thọ trì qui giới, chiều có chết, đối với ơn nặng cha mẹ nuôi dưỡng, bú sú vô lượng cũng gọi là tạm đền” [29]. Như vậy, không chỉ cố gắng chăm lo cho mẹ mình, ngài còn khéo léo giúp bà thực hiện nhiều công đức cho bản thân. Ở miền Bắc nước ta, dân gian lưu truyền Sư tích Hòa Thượng Cua và có mô típ giống câu chuyện này [30]. Hòa thượng Cua chính là nhà sư Tông Diễn, hiệu Chơn Dung (1640-1711)-một vị cao tăng thời Hậu Lê. Như vậy, cả hai truyện cùng hướng đến việc ca ngợi, giáo dục tinh thần đại hiếu theo quan điểm nhà Phật. Qua những câu chuyện liên quan, có thể khẳng định rằng ngài Đạo Trung-Thiện Hiếu là bậc danh tăng của đất Bình Dương xưa. Vị thiền sư này, trong cuộc đời hành đạo của mình, đã để lại cho thế hệ sau khá nhiều những câu chuyện thú vị, thể hiện sâu sắc giáo lý nhà Phật và cùng nhiều yếu tố thiêng được pha trộn vào đó đã chứng minh sư đã viên mãn tu hành, đắc đạo. Ngài là một tấm gương tiêu biểu cùng nhiều vị thiền sư chân tu và có đạo hạnh cao thâm. Nhưng nổi bật hơn hết, đó là tấm lòng từ bi, chẳng tiếc thân mình vì một cuộc sống ấm no, tốt đẹp cho nhân dân của sư. Điều này đã góp phần chứng minh cho tinh thần nhập thế, hành đạo cứu đời-một đặc điểm của Phật giáo dân tộc.

II.5. Nhận xét của người dân đối với một số hành vi không phù hợp với giáo lý nhà Phật

            Đạo Phật khi truyền vào nước ta đã nhanh chóng gắn chặt với cuộc sống của người dân và trở thành tôn giáo của họ. Người dân luôn quí trọng những nhà sư có đạo hạnh, yêu nước, thương dân và có lối sống giản dị. Mặt khác, do được tiếp xúc thường xuyên, họ còn phê phán, đả kích những kẻ lợi dụng vào lòng tin của người khác để trục lợi, hành động trái hẳn với giáo lý nhà Phật đang diễn ra trong cuộc sống thường ngày. Với văn học dân gian Việt Nam, trong nội dung của truyện cười và ca dao trào phúng là thể hiện rõ nét nhất điều này. Đối với truyện cười: “Tác giả dân gian có thể tìm thấy và khai thác rất nhiều khía cạnh trong mâu thuẫn giữa bề ngoài và thực chất của sư sãi và các hạng thầy để gây cười. Những truyện này biểu hiện óc nhận xét tinh vi và óc tưởng tượng phong phú của nhân dân…bọn họ không biết một chút gì về nghề nghiệp mà họ làm, không xứng đáng giữ cái địa vị mà họ muốn bám lấy” [31]. Còn trong ca dao trào phúng, những bài đả kích vào các đại biểu trụy lạc của nhà chùa và các loại thầy cúng, thầy bói chiếm một số lượng khá nhiều. Ở trong nhân vật nhà sư hổ mang, bị đả kích tập trung nhất là tính cách thoát tục giả dối. Tính cách này thường biểu hiện ra ở mâu thuẫn giữa sự chay tịnh cần phải có của nhà sư với những dục vọng về ăn uống và trai gái, những dục vọng của những con người trần tục nhất [32]. Văn học dân gian ở Bình Dương có nhắc đến một số biểu hiện biến tướng hoặc là sự phê phán, nhận xét của người dân đến một số hành vi không phù hợp với giáo lý nhà Phật. Đó là lời của một người dân nói về một số người tuy đã khoác áo nâu sòng nhưng chưa quên được mùi thế tục:

                                    “Bậu muốn tu thân?

                                       Qua gần coi thử

                                      Đừng làm bất tử

                                     Mà hại chúng sinh

                         Thầy chùa đây qua đã thấy nhiều anh

                       Miệng nói tuy không sắc mà lòng đành sắc không” [33]

Bài Vè mần tuần mãn phục nhắc đến cảnh khốn khó phải vay mượn tiền nong của người đàn bà có chồng vừa qua đời:

                                     “Không có đồng điều

                                     Đi vay tiền ngày

                                    Trả hủy trả hoài

                                   Lấm la lấm lét

                                   Nợ trả không hết

                                  Muốn chết theo ông…” [34]

Việc tang ma là tốn kém, đặc biệt phần lớn phải dùng cho việc đặt tiền cúng cho thầy kèn, thầy chùa, đối với một người thiếu phụ đang trong lúc túng quẫn là một điều đáng suy nghĩ. Đạo Phật là đạo từ bi, cứu khổ cứu nạn. Đáng lý ra trước tình cảnh ấy những người đệ tử Phật phải giúp đỡ những người chẳng may trở nên cô quạnh. Thế nhưng, trước cảnh ngược xuôi vất vả mà chẳng có ai đến giúp đỡ, người cô phụ ấy than thở thật xót xa:

“Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè mần tuần mãn phục

Cực đã hết hơi

Thầy chùa một nơi

Thầy kèn một ngã

Lại mời thầy cả

Lại tới chứng miêng

Rót rượu ra liền

Đặt quan tiền tổ

                                Thân nghèo cực khổ

                                Mỗi chỗ mỗi quan

                               Thắp nhang các bàn

                               Khói hương đầy đủ

                               Bận vô áo mũ

                               Thầy chùa nam mô

                               Cắm đầu mà lạy…”[35]

Văn học dân gian là lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân và có chức năng tìm hiểu dư luận xã hội rất tốt. Ở đây, chúng tôi muốn nói rằng, mặc dù chưa có điều kiện sưu tầm các tư liệu văn học dân gian về chủ đề này nhiều hơn nữa, nhưng thông qua đây có thể thấy đã xuất hiện một bộ phận tu sĩ xa rời tinh thần bi, trí, dũng và buông bỏ giới luật xuất hiện trong giới tu sĩ Phật giáo Bình Dương nói riêng và Nam bộ nói chung trước đây. Sách Tam thiên oai nghi nói rõ: ”Những việc người xuất gia thường làm là tọa thiền, tụng kinh, khuyến hóa. Nếu đầy đủ ba việc này thì đó là người xuất gia đúng pháp, nếu không thực hành thì đó là kẻ sống thừa chết uổng, chỉ gây nhân đau khổ mà thôi” [36].  Thực trạng này là nguyên nhân chính để xuất hiện và nhanh chóng lan rộng phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ đầu thế kỷ XX. Một trong nhiều chủ trương quan trọng của phong trào này là chấn chỉnh, giáo dục cho tăng ni hành động đúng tinh thần chánh pháp, nghiêm trì giới luật, đóng góp thiết thực cho xã hội và nước nhà. Nhà sư Thích Khánh Hòa- một trong những nhân vật nồng cốt của phong trào này đã bộc bạch: “Phật pháp suy đồi và không đoàn kết, cho nên muốn chấn hưng Phật giáo phải thực hành ba việc: Chỉnh đốn tăng già, kiến lập Phật học đường và diễn dịch, xuất bản kinh sách Việt ngữ” [37].        

III. Một số nhận xét

Tóm lại, qua tìm hiểu ban đầu về văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương, chúng tôi có một vài nhận xét như sau:

            _ Thứ nhất, Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến lịch sử, xã hội và văn hóa dân gian của người dân Bình Dương. Thông qua những nội dung đã đề cập, Phật giáo không tồn tại một cách riêng rẽ mà đã quyện chặt cùng nhiều yếu tố xã hội, văn hóa và các lớp lịch sử. Điều này cũng góp phần lý giải tại sao ngày nay đạo Phật có ảnh hưởng sâu rộng trong tâm thức của bao con người ở miền đất giàu đẹp và hiền hòa, thân thiện này.

            _ Thứ hai, những nội dung đã góp phần khẳng định có một bộ phận văn học dân gian về Phật giáo đã tồn tại trong dòng chảy của văn học dân gian Bình Dương. Dòng văn học này không chỉ tồn tại trong phạm vi chốn chùa chiền, trong đời sống tinh thần của các vị tăng ni, phật tử mà còn lưu truyền ở chốn làng xã, ở đời sống dân gian. Bởi vậy, khi nào Phật giáo còn đồng hành với cuộc sống của người dân thì lúc đó nó sẽ được tiếp thêm sức sống.

            _ Thứ ba, tìm hiểu văn học dân gian Phật giáo Bình Dương cho thấy tiến trình thâm nhập và phát triển của đạo Phật vào đời sống của người dân ở nhiều giai đoạn và góc độ khác nhau. Qua đó góp phần cho thấy sự hình thành và phát triển của đạo Phật ở miền đất này thật không mấy dễ dàng, đặc biệt là ở buổi đầu khai khẩn với tinh thần nhập thế quên mình của các vị thiền sư, cư sĩ. Hình ảnh của họ đã lưu lại trong lòng hậu thế với sự ngưỡng mộ, tin tưởng và thật thiêng liêng. Điều này làm cho Phật giáo Bình Dương mang tính chất dân gian rõ nét.

            _ Thứ tư, một điều đáng quan tâm là phần lớn các nội dung có liên quan đến văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương được chuyển tải thông qua truyện kể dân gian. Cụ thể hơn, đó chính là thể loại truyền thuyết :”Là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành và vận động phát triển lâu đời…. Tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử, màu sắc ít nhiều huyền ảo, nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử” [38]. Ngoài ra, chúng tôi muốn nói đến có quá ít các thể loại khác để cùng chuyển tải những nội dung liên quan đến Phật giáo. Phải chăng công việc sưu tầm văn học dân gian về Phật giáo còn quá ít nên chưa có sự góp mặt nhiều thể loại khác? Cùng một nội dung nhưng với mỗi thể loại khác nhau của văn học dân gian sẽ chuyển tải vấn đề ấy theo những tầng bậc của cảm xúc con người khác nhau. Chẳng hạn như ca dao, dân ca là loại hình văn học dân gian mà có thế mạnh chuyển tải được nhiều tình cảm của người bình dân. Vì vậy, việc triển khai sưu tầm và tìm hiểu văn học dân gian có nội dung liên quan đến Phật giáo Bình Dương cần được tiếp tục đối với những ai quan tâm. Nếu thực hiện được, điều này có vai trò trong việc góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Phật giáo hiện nay.

            _ Thứ năm, thông qua văn học dân gian Phật giáo ở Bình Dương, có thể thấy được những tư tưởng, triết lý sâu sắc của nhà Phật được vận dụng một cách uyển chuyển vào từng tác phẩm dân gian cụ thể. Đồng thời, những chi tiết mang yếu tố linh thiêng, những hành động phi thường của các vị thiền sư, cư sĩ đã giúp cho đạo Phật nhanh chóng đi vào lòng người và mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc cho những tín đồ nhà Phật về sau.

 

                                                            Chú Thích

 

[1]: Thích Huệ Thông, Sơ Thảo Phật giáo Bình Dương, NXB Mũi Cà Mau  và Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, 2000, trang 11.

[2]: Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan (đồng chủ biên), Folklore thế giới một số công trình nghiên cứu cơ bản. Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2005, trang 108-109.

[3]: Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan (đồng chủ biên), Folklore thế giới, một số công trình nghiên cứu cơ bản. Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2005, trang 96.

[4]:  Đặng Thị Thu Hà, Yếu tố tôn giáo và truyện cổ tôn giáo trong truyện kể dân gian Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2008. Dẫn theo:  http://khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view

=article&id=2547%3Ayu-t-ton-giao-va-truyn-c-ton-giao-trong-truyn-k-dan-gian-vit-nam&catid=97%3Avn-hoa-dan-gian&Itemid=155&lang=vi.

[5]: Câu chuyện này do Thượng tọa Thích Huệ Thông-Trụ trì chùa Hội Khánh, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương kể lại.

[6]: Thích Nguyên Chơn (chủ biên), Thiện ác nghiệp báo chư kinh yếu tập (tập 1), Tp.HCM, NXB Phương Đông, 2009, trang 668.

 [7]: Thích Nguyên Chơn (chủ biên), Thiện ác nghiệp báo chư kinh yếu tập (tập 1), Tp.HCM, NXB Phương Đông, 2009, trang 668.

[8]: Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, NXB. Khoa học Xã hội, 2004, trang 15.

[9]: Sơn Nam, Một nét xưa và nay của Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh. Trích trong: Nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, trang 26.

[10]: Tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương, Những ngôi chùa ở Bình Dương quá khứ và hiện tại, Hà Nội, NXB Tôn giáo,2006,  trang 165-166.

[11]: Tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương, Những ngôi chùa ở Bình Dương quá khứ và hiện tại, Hà Nội, NXB Tôn giáo,2006,  trang 189.

[12]: Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Hội Nhà văn, 2005, trang 183.

[13]: Nguồn: Tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương, Những ngôi chùa ở Bình Dương quá khứ và hiện tại, Hà Nội, Nxb.Tôn giáo, 2006, trang 53-54.

[14]: Vì là giai thoại dân gian, nên chúng tôi chưa biết cụ thể về thời  điểm hình thành ngôi chùa. Do vậy, trên đây chỉ là những giả thuyết mà chúng tôi phân tích dựa trên bối cảnh Phật giáo dưới thời nhà Nguyễn giai đoạn 1802-1858.

[15]: Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2004, trang108.

[16]: Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2004, trang 221.

[17]: Sơn Nam, Một nét xưa và nay của Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh. Trích trong: Nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, trang 27.

[18]: Hà Văn Tấn, Một số vấn đề lý luận sử học, Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, trang 142.

[19]:  Nhiều Tác giả, Bình Dương danh lam cổ tự, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, 2008, trang 55.

 [20]: Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2004, trang 18.

[21]:  Thích Huệ Thông, Sơ Thảo Phật giáo Bình Dương, NXB Mũi Cà Mau  và Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, 2000, trang 96-97.

[22]:  Lê Thị Diệu Hà, Về nhóm truyện ”vật linh điềm lạ” trong truyện dân gian về chúa Nguyễn ở vùng Nam bộ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số  22b  /2012, trang 89-96.

[23]: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Hà Nội, NXB Giáo dục, trang 50.

[24]: Nhiều Tác giả, Bình Dương danh lam cổ tự, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, 2008, trang 104.

[25]: Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn Độ, Hà Nội, NXB Tôn giáo, 2001, trang 42.

[26]: Thích Nguyên Chơn (chủ biên), Thiện ác nghiệp báo chư kinh yếu tập (tập 2), Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Phương Đông, 2009, trang 976.

[27]:  Thích Huệ Thông, Sơ Thảo Phật giáo Bình Dương, NXB Mũi Cà Mau  và Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, 2000, trang 85-86.

[28]: Thích Huệ Thông, Sơ Thảo Phật giáo Bình Dương, NXB Mũi Cà Mau  và Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, 2000, trang 87-88.

[29]: Dẫn theo Thích Thanh Từ, Phật giáo với dân tộc, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992, trang 186. 

[30]: Sự tích Hòa Thượng Cua như sau: Ở miền Bắc nước ta có một cậu bé sống với mẹ tại một làng quê nghèo, hẻo lánh. Người mẹ tảo tần buôn bán nuôi con qua ngày. Năm chú bé mười hai tuổi, một hôm trước khi gánh hàng ra chợ, bà bảo con trai giã giỏ cua để nấu canh làm cơm trưa. Khi giã cua, chú bé động lòng thương và đem cả giỏ trút xuống ruộng. Trưa về, khi ăn cơm, bà không thấy món canh cua và hỏi ra nguyên cớ. Vừa đói vừa giận, bà vớ cây đủa bếp đánh con. Đứa bé hớt hãi bỏ chạy và xa mẹ từ đó. Ba mươi năm sau, bà mẹ già nua mỗi ngày vẫn ra chợ. Bỗng nhiên, một ngày nọ, có một vị tăng trạc tuổi trung niên ghé hỏi thăm và mong muốn mang bà về chùa để nuôi dưỡng. Bà cụ nhận lời về ở chùa, làm công quả hằng ngày. Ngày tháng dần qua, biết bà cụ sắp qua đời, vị trù trì-tức vị tăng trung niên đã mang bà về chùa lại bận việc phật sự ở nơi xa. Trước khi đi, ngài dặn dò nếu bà mất thì nhờ chư tăng tẩn liệm, đừng vội mai táng mà hãy đợi ngải về. Quả thật, bà lão mất được một hôm thì ngài về. Đứng trước quan tài, ngài khấn nguyện rằng theo đúng lời Phật dạy nếu con cái tu đắc đạo thì cha mẹ sẽ được sinh thiên và đúng vậy thì xin cho quan tài bay bỗng lên và vỡ làm 3 mảnh. Sự việc diễn ra đúng như lời khấn của ngài trước sự kinh ngạc của mọi người. Hòa thượng bèn thuật lại thân thế của mình, chẳng ai khác là cậu bé thả cua dạo nọ, còn bà lão quá cố chính là mẹ mình. Dẫn theo: http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/phat-dan-va-vu-lan/603-hoa-thng-cua.html

[31]: Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Văn học dân gian Việt Nam, Hà Nội, NXB Giáo dục, 1998, trang 381.

[32]: Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Văn học dân gian Việt Nam, Hà Nội, NXB Giáo dục, 1998, trang 471.

[33]: Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, Tổng tập thơ Bình Dương (1945-2005), Bình Dương, 2004, trang 12.

[34]: Lư Nhất Vũ-Lê Giang (chủ biên), Dân ca và Thơ ca Bình Dương, Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, 2001, trang 335.

[35]: Lư Nhất Vũ-Lê Giang (chủ biên), Dân ca và Thơ ca Bình Dương, Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, 2001, trang 334.

[36]: Thích Nguyên Chơn (chủ biên), Thiện ác nghiệp báo chư kinh yếu tập (tập 2), Tp.HCM, Nxb.Phương Đông, 2009, trang 1218.

[37]: Dẫn theo Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, Nxb.Khoa học Xã hội, 2004, trang 384.

[38]: Võ Phúc Châu, Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam bộ, Hà Nội, NXB Thời Đại, 2011, trang 35.

 

 

 

                                                      Tài liệu tham khảo

1.      Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Hà Nội, NXB Giáo dục, 1998.

2.      Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Hội Nhà văn, 2005.

3.      Hà Văn Tấn, Một số vấn đề lý luận sử học, Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007.

 

4.      Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, Tổng tập thơ Bình Dương (1945-2005), Bình Dương, 2004.

5.      Lê Thị Diệu Hà, Về nhóm truyện ”vật linh điềm lạ” trong truyện dân gian về chúa Nguyễn ở vùng Nam bộ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số  22b  /2012

6.      Lư Nhất Vũ-Lê Giang (chủ biên), Dân ca và Thơ ca Bình Dương, Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, 2001.

7.      Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan (đồng chủ biên), Folklore thế giới một số công trình nghiên cứu cơ bản. Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, 2005

8.      Nhiều tác giả, Hội thảo khoa học 300 năm Phật giáo Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

9.      Nhiều Tác giả, Bình Dương danh lam cổ tự, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, 2008.

10.  Tỉnh Hội Phật giáo Bình Dương, Những ngôi chùa ở Bình Dương quá khứ và hiện tại, Hà Nội, NXB Tôn giáo, 2006.

11.  Thích Huệ Thông, Sơ Thảo Phật giáo Bình Dương, NXB Mũi Cà Mau và Tỉnh hội Phật giáo Bình Dương, 2000.

12.     Thích Nguyên Chơn (chủ biên), Thiện ác nghiệp báo chư kinh yếu tập, Tp.HCM, NXB Phương Đông, 2009.

13.  Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo ở Nam bộ, Hà Nội, NXB. Khoa học Xã hội, 2004.

14.  Nhiều Tác giả, Bình Dương danh lam cổ tự, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, 2008.

15.   Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật giáo Ấn Độ, Hà Nội, NXB Tôn giáo, 2001..

16.  Võ Phúc Châu, Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam bộ, Hà Nội, NXB Thời Đại, 2011