Vườn Lái Thiêu và đặc sản trái cây Sầu riêng - Măng cụt của Bình Dương (Nguyễn Hiếu Học)

10/07/2014
 
 
                                                                                           
 
          Nói đến cảnh quan Thủ Dầu Một xưa và cả Bình Dương nay, không thể không nhắc đến vườn cây Lái Thiêu. Và khi kể về các loại trái cây ngon hàng đầu của miền Đông Nam bộ, không ai là không biết đến những trái đặc sản SẦU RIÊNG, MĂNG CỤT của miệt vườn Thuận An – Bình Dương.
          Chính vườn cây trái bạt ngàn rộng hàng nghìn hécta cùng với những làng nghề lâu đời về gốm sứ, sơn mài, điêu khắc, mỹ nghệ gỗ… đã làm nên nét đặc trưng và vẻ đẹp riêng của vùng đất Thủ Dầu Một - Bình Dương, dù gần đây Bình Dương đã có thêm những cái nổi tiếng, những cái nhất về phát triển kinh tế, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa v.v…
          Toàn cảnh vùng cây trái trải dài ngút mắt trên một địa bàn mương rạch san sát giao nối kênh rạch dọc theo mười mấy kilômét bờ trái sông Sài Gòn…(1) Trước đây những sinh hoạt lâu đời theo thời vụ của nhà vườn như ươm trồng, chăm bón, thu trái, vận chuyển, trao đổi mua bán. Khách thăm vườn ngắm cảnh, người đến thưởng thức trái ngon vị lạ… Tất cả tạo nên một không gian riêng, không gian miệt vườn. Nhất là vào những ngày mùa trái chín, đó đây ngây ngất hương vị nồng nàn của Mít tố nữ, Sầu riêng và rộn ràng vui mắt với đủ màu sắc vàng xanh tím đỏ của những trái Dâu, Xoài, Mận, Ổi, Vú sữa, Măng cụt, Chôm chôm…
          Xưa kia, Thủ Dầu Một – Bình Dương được xem là “công viên của xứ Nam kỳ”, là khu vườn tự nhiên của các phố thị miền Đông như Sài Gòn, Gia Định…
          Bởi thế, đã có thời những chàng trai phong nhã Gia Định, có lẽ  không chỉ vì vẻ đẹp hiền dịu của các cô con gái miệt vườn đất Thủ mà còn vì hương vị quyến rũ của múi Sầu riêng trái Măng cụt, cho nên họ đã không tiếc công chèo thuyền cả chục cây số ngàn đến đây để thưởng thức trái ngon vị ngọt, cảnh đẹp, người xinh:
          “Ghe anh nhỏ mũi trái lườn
          Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em
          Cùng em ăn múi Sầu Riêng
          Ăn rồi cảm thấy một niềm vui chung”.
(Ca dao xưa)
          Nhưng không chỉ riêng mấy vùng lân cận Gia Định - Sài Gòn mà đã có nhiều thế hệ khách phương xa vẫn thường tìm đến đây để đắm mình trong mùi vị cây trái, màu sắc, cỏ cây của nhà vườn:
          “Anh về đất rộng Bình Dương
          Trái cây… và lá con đường cỏ xanh…”
          (Thơ Bùi Giáng “Anh về Bình Dương” – 1959)
          Câu thơ bình dị, khoáng đạt trên đây của nhà thơ lãng du Bùi Giáng trong một lần ghé đến Bình Dương, đã đưa ta vào khoảng không gian miên man màu xanh miệt vườn Lái Thiêu - Bình Dương.
          Cũng chính cái khoảng không xanh dịu yên ả ấy đã giữ chân bao khách nhàn du, trong đó có cả nhà văn Vũ Bằng, một người đi nhiều, viết khỏe nhất là viết khá hay về cái ngon, cái lạ trong văn hóa ẩm thực của các miền đất nước. Cũng tại đây, tác giả “Món lạ miền Nam” đã từng nhắc đến: “Ở Lái Thiêu, một cô bạn và tôi nằm trong vườn măng, ngửa mặt lên trời xem mây bay rồi chợt ngủ lúc nào không biết…” (Vũ Bằng Sđd tái bản 1989, trang 53)
          Trên đây có thể chỉ là một vài cảm nhận bất chợt của khách thoáng qua. Còn với những người địa phương, khung cảnh, sinh hoạt của vườn cây thân thuộc này đã gắn liền với làng quê trong tâm trí của họ qua bao đời nay. Cho nên những người sinh trưởng ở đây khi phải xa làng vẫn thương nhớ về cái không gian đã từng gắn bó với tuổi thơ của họ. Trong truyện ngắn “Làng tôi” (2) nhà văn Lý Lan, quê mẹ ở làng vườn Lái Thiêu đã nói thay cho những xúc cảm của nhiều người đồng cảnh khi nhớ về làng quê đó: “Tôi nhớ mãi khi làng có giỗ, khách nơi khác đến dự tiệc đều xuýt xoa khen trái cây vùng này ngon. Các bà, các dì nói nhờ nước ở vùng này tốt, đất cũng lành. Tôi nhớ chưa bao giờ có bão giông, hạn hán hay lụt lội gì ở làng tôi. Trong vườn măng cụt lúc nào cũng râm mát, nên con gái vườn da trắng nõn, mắt biếc môi son. Ở Sài Gòn người ta hát ca dao:
          Tháng giêng mười sáu trăng treo
          Anh sắm giường lèo cưới vợ Lái Thiêu
          Còn ở bưng biền các chị lại hát ru em:
          Mẹ mong gả thiếp về vườn
          Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”.
          Riêng nhà văn, bà vừa tiếc rẻ vừa tự an ủi cho trường hợp của mình:“Mẹ tôi là con gái miệt vườn, nhưng tiếc là tôi bị “đô thị hóa” thành dân Chợ Lớn (…) ví như mai mốt không còn làng nữa, tôi phải biết rằng tôi là người hạnh phúc đã được sinh ra và lớn lên trong ngôi làng xứ vườn” (2)
          Làng ở đây là làng vườn cây trái Lái Thiêu của tác giả, nơi có đủ các loại trái ngon vị lạ, nhưng có lẽ quý nhất là trái đặc sản Sầu riêng. Măng cụt, được trồng lâu đời ở đây nếu không muốn nói là sớm nhất miền Đông Nam bộ.
          SẦU RIÊNG
          Trước hết, hãy nói về Sầu riêng, loại trái cây đặc trưng của phía Nam. Nếu trái măng cụt là đặc sản có thể nói là “quán quân” của Thủ Dầu Một xưa thì hương vị, chất lượng múi Sầu riêng Lái Thiêu vẫn luôn được thực khách xa gần xếp vào hàng đầu ở Nam bộ.
          Trước đây cả miền Đông Nam bộ, có lẽ chỉ đất Thủ Dầu Một mới trồng nhiều cây Sầu riêng và chỉ có giống Sầu riêng ở Lái Thiêu là ngon nhất. Ngày nay đã có nhiều nơi trồng cây Sầu riêng và có nơi trồng với diện tích lớn, đạt được sản lượng cũng như chất lượng cao. Nhưng hiện nay cũng có người vẫn còn cho rằng “Sầu riêng ở đâu cũng không ngon bằng Sầu riêng trồng ở Lái Thiêu” (3). Có thể đó là sự cảm nhận với ít nhiều chủ quan theo khẩu vị riêng và cũng có thể do phần ưu ái còn truyền lại qua nhiều thế hệ thực khách đã gắn bó từ cái thời “vang bóng” quán quân về cả số lượng và chất lượng của trái Sầu riêng Lái Thiêu.
          Nhưng quả thật cũng có một số cơ sở khoa học nói đến ưu thế đặc điểm về thổ nhưỡng tại vùng đất này, cũng như có nhiều cứ liệu cho thấy đây có thể là một trong vài nơi giống Sầu riêng được trồng đầu tiên ở Việt Nam. Lái Thiêu là vùng đất bưng, đất phù sa mềm có độ lưu huỳnh cao, thích hợp cho sự phát triển thân cây và tạo nên mùi vị đặc biệt cho trái Sầu riêng xứ này.
          Nhiều tư liệu, tác giả cho rằng cây Sầu riêng vốn là loại cây hoang dã cho quả khá ngon, nên người ta mang giống về trồng nhiều tại vườn Malaysia, Inđônêsia, Thái Lan… Các nhà truyền giáo phương Tây thường mang những giống cây quí vùng nhiệt đới trồng ở những nơi họ đến truyền đạo, nhất là ở Nam kỳ, nơi có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp cho các giống cây này. “Vào năm 1890 một cố đạo người Pháp tên là Cernet (?) đã đem hạt giống Sầu riêng từ Inđônêsia đến trồng ở vùng Lái Thiêu” (3). Trước đấy ít lâu nhiều người vẫn còn trông thấy mấy cây Sầu riêng cổ thụ trên 100 tuổi tồn tại ở xóm đạo Tân Qui, chẳng hạn như cây Sầu riêng đại thụ của ông Trùm Tư nổi tiếng khắp vùng Lái Thiêu, có năm cho trên nửa thiên quả, khi bị bão trốc gốc, thân cây có thể xẻ thành mấy bộ ván dày.
          Cây Sầu riêng có tên khoa học là DURIS ZIBETHIUS MURRAY (Tiếng Ý Ziberto có nghĩa là mùi lấy từ con cầy hương, còn DURIS là thổ ngữ có nghĩa là gai nhọn). Có người cho rằng tên Sầu riêng trong Tiếng Việt là do âm đọc trại từ chữ DIOERIAN (Tiếng Malaysia, quê hương đầu tiên của cây Sầu riêng) hoặc chữ THU RÊN (Tiếng Campuchia) mà ra. Trong sách “Truyện kể dân gian Nam Bộ” (4) có nhắc đến sự tích trái Sầu riêng và cho rằng “Sầu riêng” là tên tiếng Việt đặt cho trái “THURÊN”, một trái cây ngon, quý gắn liền với câu chuyện tình thủy chung và đau thương của một đôi vợ chồng ở miệt vườn vùng sông nước Cửu Long vào thời xa xưa.
          Mùi vị của trái Sầu riêng rất đặc biệt, khi chín tỏa mùi hương thơm nồng gắt, gây nên bao chuyện khen chê, ưa thích và xa lánh. Trước đây (khoảng TK XVIII) dân Hà Lan đã đặt cho trái Sầu riêng biệt danh “thứ ghê tởm”(Stanker). Người phương Tây từng cho rằng mùi Sầu riêng là “một hỗn hợp mùi pho-mát cũ và củ hành, bốc hơi mùi nhựa thông…”. Cũng có người như nhà tự nhiên học Wallace, khi mới gặp mùi Sầu riêng ông đã thích ngay: “Tôi thấy một trái chín rơi trên đất và ăn thử. Từ đó tôi rất khoái ăn Sầu riêng (…) càng ăn nhiều bạn càng khó dứt ra khỏi hương vị Sầu riêng” (5). Đối với người Việt cũng thế, mới tiếp xúc mùi Sầu riêng lần đầu, nhất là với đa số người miền Trung, miền Bắc thì không dễ gì có thể ưa thích ngay. Nhưng nói chung, đến nay trái Sầu riêng dường như đã chinh phục được hầu hết khẩu vị người cả nước. Bằng chứng sản lượng hàng năm chưa đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, ngay những năm được mùa ở Bình Dương giá Sầu riêng luôn ở mức cao so với nhiều loại trái cây khác.
          Trong ẩm thực, Sầu riêng không chỉ là thứ trái cây cao cấp rất được ưa chuộng mà ưu thế còn được chỉ rõ qua một số thực phẩm chế biến thông dụng như kem, mứt, bánh kẹo, xôi chè có hương vị Sầu riêng và cả trong thức uống như rượu, bia, cà phê có pha chế với hương Sầu riêng. Sầu riêng còn là loại trái cây khá đầy đủ chất bổ dưỡng. “Trong 100 gam thịt Sầu riêng có 37,14% nước; 6,38% chất đạm; 2,7% chất béo; 16,2% chất đường và nhiều chất khác”. Qua phân tích này nhà dược học Đỗ Tất Lợi đã viết trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” về cây Sầu riêng như sau: “Sầu riêng là một quả ngon lại là một quả có tác dụng kích thích sinh dục. Rễ và lá còn được dùng chữa sốt, bệnh về gan, vàng da” (6). Một bảng phân tích khác cho thấy trong 100g cơm Sầu riêng cung cấp 156 Kcal; 49 mg Cali; 2,0 mg sắt; 8,0 mg Vitamin A; 461 U Beeta coroten; 25,62mg Vitamin C… Đặc biệt còn có 8 loại acit amin trong đó có methiomin và lysin…
          Trong văn hóa ẩm thực, nhà văn hóa Trung Hoa Lâm Ngữ Đường từng nói về mối quan hệ giữa các món ăn vào thời ấu thơ với bước đầu hình thành tình cảm quê hương, đất nước như sau: “Tình yêu đất nước có sự thương nhớ thèm thuồng món ăn mà cha mẹ đã cho ta ăn lúc ta còn nhỏ tuổi” (*).
          Theo đó, chúng ta cũng có thể nói rằng phần đông người Nam bộ, đặc biệt những cư dân miệt vườn như vùng Lái Thiêu – Tân Uyên, cái hương vị đặc trưng của trái Sầu riêng dường như đã góp phần làm đậm đà thêm mùi vị quê hương của vùng đất này và vẫn luôn bàng bạc trong tâm cảm của họ.
          Chẳng thế, cách đây hơn nửa thế kỷ, một nhà thơ của đất Bình Dương đã từng nhắc đến mấy biểu trưng mang đậm âm sắc, phong vị vùng quê của tác giả và cũng là chung cho quê hương Nam bộ trong sự liên tưởng, tiếp nối đầy hoài niệm về cội nguồn từ nơi “trời Nam” hướng về “đất Bắc”.
          “Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
          Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
          Vẫn thương vẫn nhớ mùi vải đỏ
          Mỗi lần phảng phất hương Sầu riêng”
          (Trích từ bài thơ “Nhớ Bắc” 1941-1946, của Huỳnh Văn Nghệ)
          Quả như một nhà nghiên cứu về văn hóa, đã đưa ra nhận xét: “Món ăn là một nội dung góp phần tạo nên phong vị dân tộc, phong vị quê hương và có tác dụng không nhỏ vào tâm tư tình cảm của mỗi con người…” (8)
          Và ở đây trái Sầu riêng là một trong số không nhiều các thức ăn tuyệt diệu có vai trò như thế đối với người Bình Dương, với văn hóa ẩm thực Bình Dương.
          TRÁI MĂNG CỤT (Giáng châu)
          Bên cạnh trái Sầu riêng còn có một loại cây trái đặc sản tiêu biểu hơn cả cho vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương, đó là cây Măng cụt, được trồng lâu đời và rất nổi tiếng ở miệt vườn Lái Thiêu.
          Nhiều tác giả trong đó có nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển (1902-1996) gốc miền Tây Nam bộ (người tỉnh Sóc Trăng) đã cho rằng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một – Bình Dương là quê hương đầu tiên của giống trái cây măng cụt được di thực từ một số nước Đông Nam Á (như Malaysia, Inđônesia…) vào nước ta: “Măng cụt là loại trái cây xứ Thủ Dầu Một, xứ Lái Thiêu, do các cha đạo Gia Tô đem giống về có thuyết nói là từ Bá Đa Lộc hoặc linh mục Tabert” (9). Nhà văn Nam bộ Sơn Nam cũng tán đồng ý kiến trên và dẫn thêm cứ liệu: “Theo Melleret, cây măng cụt đầu tiên từ Mã Lai đưa đến Nam bộ trồng ở Lái Thiêu và tại nhà thờ họ đạo Lái Thiêu” (10). Một tác giả sống nhiều năm ở Bình Dương đã viết về “Vườn cây Lái Thiêu” như sau: “Tới vườn cây trái Lái Thiêu, chưa ăn Măng cụt, cũng tức là chưa hiểu biết thế nào là hương vị trái cây Lái Thiêu, bởi Măng cụt ở đây ngoài sản lượng cao, còn có một hương vị thơm ngon đặc biệt mà măng cụt nơi khác không thể nào có được. Theo tư liệu cũ (?) từ đầu thế kỷ XIX, một nhóm nông học Pháp đến đây trồng thử nghiệm một số trái cây quý vùng nhiệt đời (…) đặc biệt là măng cụt có thêm mùi vị khác lạ (…). Hiện tại ở đây coi là vùng có diện tích trồng măng cụt lớn nhất Đông Nam Á” (?) (11)
          Trước hết, về chất lượng mùi vị trái Măng cụt Lái Thiêu thì không có gì phải bàn cãi, chúng ta có thể tìm được nhiều cứ liệu nói về giá trị đặc sắc của trái Măng cụt ở vùng đất này, kể cả việc xác định Thủ Dầu Một – Bình Dương là quê hương đầu tiên của loại trái cây nói trên. Nhưng về diện tích, sản lượng Măng cụt hẳn là cần phải có đủ cứ liệu, thống kê, vì hiện nay Bình Dương không còn là nơi duy nhất chuyên trồng cây Măng cụt. Đó là chưa kể trong những năm gần đây diện tích cây trồng đã bị thu hẹp dần, liên tiếp nhiều vụ mùa thất thu, sản lượng giảm sút, số lượng cây trồng nhiễm bệnh, thoái hóa ngày càng tăng. Lý do nhiều, trong đó nổi lên vấn đề nước thải công nghiệp, sự ô nhiễm, những bất cập trong nguồn nước và hệ thống tưới tiêu, hậu quả của sự chuyển đổi quá nhanh từ hoạt động kinh tế nông nghiệp qua kinh tế công nghiệp, dịch vụ… Vì thế nói rằng: “diện tích trồng Măng cụt ở Bình Dương hiện nay lớn nhất Đông Nam Á” như tác giả trên đã viết càng thêm khó khẳng định. Cũng vậy, thời ấy nếu có một nhà nông học nước ngoài nào đó đem giống Măng cụt đến trồng thử nghiệm ở đất Thủ Dầu Một thì thời điểm ấy phải là sau năm 1897, vì đây là năm hai Trung tâm thí nghiệm canh nông đầu tiên của người Pháp tại Nam kỳ là ở Gia Định và Thủ Dầu Một (tại Bến Cát) mới bắt đầu thành lập (12). Thế nhưng trái măng cụt đã được nhắc đến trong sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” (Soạn trong thời gian 1864-1875) dưới tên gọi là trái “thổ lý” ghi ở mục “thổ sản” của tỉnh Biên Hòa (tại huyện Bình An, tức vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương sau này)(13). Hơn nữa, trước đó khoảng ba bốn chục năm, vua Minh Mạng (1820-1840) đã từng biết đến trái măng cụt và gọi tên là “Giáng Châu tử” (14) Có thể loại trái cây quí này gốc ở Nam bộ được tiến cung từ thời vua Gia Long (1802-1820) thống nhất đất nước.
          Như vậy, giống măng cụt đã được trồng ở Việt Nam (Lái Thiêu-Thủ Dầu Một) trước khi quân Pháp xâm chiếm nước ta, khá lâu do các tu sĩ phương Tây mang đến trồng thử nghiệm trên đất Lái Thiêu (Lái Thiêu cũng là vùng đất có những hoạt động truyền giáo của các tu sĩ Thiên Chúa giáo sớm hàng đầu ở phía nam Đàng Trong, tức xứ Nam kỳ). Tại đây Măng cụt phát triển nhanh, chóng ra trái, sản lượng cao, mùi vị thơm ngon đặc biệt. Lái Thiêu trở thành vùng chuyên canh loại trái cây quí này và nổi tiếng trong cả nước. Vì thế chỉ có thể nói chắc rằng: Vườn Măng cụt Lái Thiêu là vùng chuyên canh hàng đầu và sớm nhất ở Việt Nam và chất lượng mùi vị trái Măng cụt ở đây ít có nơi nào sánh kịp.
          Dưới đây, chúng ta có thêm một dẫn liệu về việc đánh giá chất lượng trái Măng cụt nói trên. Được biết Salan, viên tướng Pháp đã sống ở Việt Nam gần 30 năm (1924-1953) và ông khá sành món ăn của Việt Nam – Đông Dương, đã hết lời tán thưởng trái măng cụt của Nam bộ (trồng ở Lái Thiêu – Bình Dương): “Trái Măng cụt nổi tiếng ngon ở phần múi cơm màu trắng bên trong, với người sành ăn, đó là loại trái cây tuyệt diệu nhất ở Viễn Đông”(Nguyên văn: Mangustans si rerommés, à la pulpe blanche et savoureuse, le meilleur fruit de I’Extrême Orient pour les connaisseurs) (15)
          Tên “Măng cụt” có lẽ là âm Việt đọc từ các chữ Pháp là mangoustan (trái măng cụt – tiếng Anh là mangosteen) và mangoustanier (cây măng cụt). Người Hoa gọi Măng cụt là “Sơn trúc tử” hay “Mã cật” (16). Còn sách ĐNNTC của ta gọi là trái “Thổ Lý” và vua Minh Mạng lại gọi bằng cái tên đẹp “Giáng Châu tử” (trái ngọc rơi) như đã nói ở trên.
          Sau này người Huế cũng quen gọi trái Măng cụt là trái “Giáng châu”. Năm 2005 chúng tôi may mắn có dịp được gặp nhà khoa học lão thành gốc Huế GSTS Võ Quang Yến (thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học quốc gia Pháp – CNRS) từ Pháp về thăm quê Việt Nam, có ghé đến Bình Dương, ông đã cho biết thêm nhiều điều thú vị chung quanh trái Măng cụt, nhất là về tên gọi trái Giáng Châu “ở vườn cây trái xứ Huế”. Sau đó ông có gữi cho chúng tôi một bài nghiên cứu khoa học nhưng cũng đầy chất văn học của ông (đã được đăng tải trên một chuyên san khoa học) có tiêu đề “Măng cụt – Giáng Châu” dài 4 trang giấy khổ lớn kèm theo đến 3 trang liệt kê trên 50 tài liệu tham khảo gốc gồm sách, báo, bài nghiên cứu…
          Qua bài viết trên, không kể phần chuyên môn, khoa học, với chúng tôi điều đáng chú ý hơn cả là được biết thêm rằng từ lâu cây Măng cụt ở miền Nam đã được trồng nhiều ở Huế và cây cũng sây trái, chất lượng khá ngon,đặc biệt trái măng ở đây lại ra nghịch mùa với mùa măng Nam bộ. Ông cũng cho biết trái măng cụt: “còn tên gọi đài các ở Huế là Giáng Châu (như ngọc trên trời ban xuống) thì có lẽ từ cung đình mà ra. Thiết nghĩ cây măng cụt sống trên đất Kim Long (Huế) phải có từ lâu (…) cũng phải từ thời Gia Long lên ngôi, nhận sản vật hai miền cung tiến ra kinh đô. Bởi tương truyền giống Măng cụt do bà Từ Dũ (17) đem từ trong Nam ra” (18).
          Từ trái Măng cụt dân dã, một đặc sản của miền Nam, của vùng quê đầu tiên Lái Thiêu, Thủ Dầu Một – Bình Dương, đến trái “Giáng Châu” đài các của cố đô Huế lại diễn ra một quá trình chuyển hóa từ văn hóa ẩm thực đến văn hóa vườn. Trái Măng cụt – Giáng Châu được đón nhận một cách đầy cảm xúc trong tâm hồn Huế, cũng như đầy hình ảnh, thi vị trong khung cảnh không gian riêng của ngôi vườn Huế. Hãy cảm nhận từ một trải nghiệm tinh tế sâu lắng ấy về trái giáng châu đang chín trong một khu vườn xứ Huế:“Hãy lắng nghe tiếng động của quả Giáng châu đang rơi trong vườn… như tiếng nhắc nhở của nắng sớm qua hương hoa mộc – Giáng châu rơi xuống, chạm đất – phải “rơi và chạm” như một nghi lễ hành thâm, như sự cúi xuống của giọt nắng đầu tiên – đó là bí mật của vị ngọt thanh khiết vô song của múi giáng châu trinh nguyên, hái trên cành không chạm đất, Giáng châu vẫn còn giữ một vị chua chưa đủ xứng danh là viên ngọc của trời riêng tặng cho đất…” (19)
          Nhìn trái măng chín đầy màu nắng ấm của trời phương Nam, của trời Bình Dương, mới thấy được sự kỳ diệu của tự nhiên. Cũng vẫn màu tím sẫm ấy, trái Giáng châu xứ Huế lại xuất hiện trong tiết đông hàn, nên đã được người Huế xem như một trái vui đột ngột được nhắc đến trong trang bút ký của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Mùa đông về dằng dặc trong tiếng động nghìn trùng của mưa trên lá. Tưởng không còn gì để trông ngóng ở khu vườn trước lúc sang xuân, thì đến tháng mười một măng cụt chín như một trái vui đột ngột cuối năm” (20).
          Đó là câu chuyện của trái Giáng châu kỳ diệu trong vườn Huế và cả trong tâm cảm người Huế. Chúng ta hãy trở lại vùng đất Phương Nam đặc biệt là Bình Dương, quê hương đầu tiên của các loại trái quý này. Đâu đó đã bắt đầu nghe thấy có người nói về quá khứ, về một thời vang bóng của vườn cây trái Lái Thiêu… Nhất là trong những năm gần đây ngày càng có thêm nhiều băn khoăn, âu lo về sự phát triển và cả sự tồn tại của vườn cây trái xứ này. Ít ai ngờ rằng cái điều giả định trước đây trong một tác phẩm văn học của nhà văn Lý Lan như đã dẫn trên, rất có thể trong một tương lai không xa sẽ trở thành một phần của hiện thực. Hiện thực ấy đang bắt đầu diễn ra cùng với nhiều cảnh báo, thách thức như chúng ta đã biết và đang trở thành mối quan ngại chung nếu chúng ta không kịp làm một điều gì đó để góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, sinh cảnh của các vườn cây trái, những khoảng không gian xanh đẹp trên địa bàn Bình Dương trong chiều hướng đang đô thị hóa, công nghiệp hóa mạnh mẽ.
          Tuy nhiên, nỗi lo âu và sự cảnh báo trên đây dẫu sao cũng chưa hẳn làm chúng ta mất hy vọng. Chắc chắn rồi ai cũng hiểu được rằng điều cốt lõi, thiết thân của sự phát triển bền vững và toàn diện là luôn phải gắn liền với sự hài hòa thân thiện giữa các hoạt động của con người với môi trường sinh thái tự nhiên.
          Hy vọng rằng các khó khăn, thách thức rồi sẽ vượt qua, những lệch lạc sẽ sớm được điều chỉnh. Rồi vườn cây trái Lái Thiêu lại vẫn xanh tươi và trái Sầu riêng, Măng cụt vẫn là những trái ngon đặc sản của vùng đất Bình Dương.
          Và cũng nên tin rằng bên cạnh hoặc ngay cả trong lòng các khu đô thị công nghiệp ngày một đồ sộ vươn cao, sẽ không thể thiếu những mảng màu xanh cây trái nhà vườn, sân vườn (Vốn là quà tặng quý giá mà thiên nhiên dành cho đất và người Bình Dương từ bao đời nay) luôn ở những vị trí thích đáng… Như thế, vẫn còn đó những khoảng không gian yên bình dịu xanh trong cảnh quan cũng như trong tâm hồn của mỗi con người Bình Dương năng động và luôn thân thiện gắn bó với thiên nhiên ¡
          Ghi chú:
(1) Theo thống kê địa phương, trên địa bàn vườn cây trái Lái Thiêu có 48 nhánh kinh rạch với tổng chiều dài 56 km trên diện tích khoảng 1.500 héc ta, chạy dài đến 13 km dọc bờ trái sông Sài Gòn.
(2) Lý Lan, truyện ngắn “Làng tôi” trong “Tổng tập văn xuôi Bình Dương (1945-2005), Hội VHNT-Bình Dương, XB 2005, (trang 678 đến 681)
(3) Phan Thứ Lang “Lái Thiêu và trái Sầu riêng” TC Xưa và Nay trong sách Thủ Dầu Một, Bình Dương đất lành chim đậu XB 2004, trang 294.
(4) Nguyễn Văn Hiếu “Truyện kể dân gian Nam bộ” 1987 (trang 175)
(5) Dẫn lại Lê Đào “Sầu riêng người yêu kẻ ghét”, viết theo E.O Magazin, 1995 trên TC TGM số 143-7/1995, trang 34-35.
(6) Đỗ Tất Lợi “Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam” XBKHKT 1981 (trang 919).
(7) “Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ”
(8) Đinh Gia Khanh “Văn hóa ẩm thực Việt Nam”, 2000 trang 9
(9) Vương Hồng Sển “Tự vị Tiếng Việt miền Nam”, XB 1993 trang 463
(10) Sơn Nam “Vườn Lái Thiêu” trong ĐCSB, XB 1991 trang 334
(11) Ngọc Am “Vườn cây trái Lái Thiêu” trong ĐCSB, XB 1991 trang 298
(12) Sơn Nam “Trung tâm thử nghiệm canh nông Bến Cát (1897), ĐCSB, 1991, trang 365.
(13) Bản dịch của Nguyễn Tạo, Sài Gòn TB 19973 (trang 53)
(14) “Từ điển Việt Nam” XB 1970 (trang 893) của Lê Văn Đức + Lê Ngọc Trụ.
(15) Dẫn lại của Vương Hồng Sển trong “Sài Gòn tạp pín lù” XB 1998 (trang 1713).
(16) Sđd ở ghi chú (14) trang 893
(17) Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810-1902) mẹ vua Tự Đức.
(18) Nguyễn Hoài Hương “Kim Long vườn xanh xứ Huế”, nhớ Huế 8/2000 trang 131 dẫn lại từ GSTS Võ Quảng Yến  (TL gửi tặng chúng tôi).
(19) Thái Kim Lan “Nắng Phú Xuân”, Diễn đàn Forum, Paris (2002) trang 43. Dẫn lại bài viết của GSTS Võ Quảng Yến (đã đăng báo) gửi tặng chúng tôi.
(20) Hoàng Phủ Ngọc Tường “Hoa trái quanh tôi” trong tập “Huế, di tích và con người” NXB Thuận Hóa – Huế trang 63.