SAU BÃO (Đỗ Tiến Thụy)

01/07/2014

        Họ tên khai sinh của gã đàn ông 35 tuổi ấy là Vũ Huân. Nhưng nó đã được ghép thêm vào một chữ khoèo. Cái tên nếu chỉ đọc qua chữ, người ta liên tưởng ngay đến sự tật nguyền, xa xót. Nhưng nếu nghe cái tên Huân khoèo được phát ra từ miệng những ngư dân ở vụng Bèo thì ý nghĩ về một người đàn ông tàn phế hoàn toàn bay biến. Huân khoèo ấy à? Tay đấy thì ghê rồi! Huân khoèo ấy à? Hắn là con cá kình đại dương đấy!… Những câu nói về Huân bằng giọng vừa nể phục, vừa ghen tị. Mười tuổi đã ngụp lặn trên những con sóng bạc đầu vùng cảng biển Hải Phòng. Mười tám tuổi đã theo tàu cá đánh bắt xa bờ, rong ruổi hầu hết những vùng biển nhiều cá nhưng cũng lắm hiểm nguy. Và trong một chuyến ra khơi định mệnh, hắn đã dính nạn.

        Tất cả là do một sự bất cẩn. Cái dây văng níu con tàu 200 tấn của ông chủ do một thuỷ thủ mới học việc đã bị quấn ngược vòng vào cột néo. Khi Huân vừa đụng tay vào, sợi néo như một dây cung đang bức nín một lực nén khủng khiếp bất ngờ bật bưng. Hắn, giống y một mũi tên thịt bị bay vút xuống đại dương đang gầm gào sóng dữ. Tất cả thuỷ thủ trên tàu đồng thanh rú lên. Ai cũng nghĩ là hắn chết. Nhưng hắn chỉ choáng ngất trong vài phút rồi bắt đầu quẫy nước ngoi lên. Nhưng sao chân hắn không cử động được thế này? Đưa tay xuống sờ chân phải: một đoạn xương ống quyển gãy lòi ra ngòai, sắc buốt. Sờ xuống chân trái: tay hắn vướng vào một vật tròn tròn to bằng nắm tay, trơn nhẫy. Hắn điếng hồn nhận ra bánh chè của chân trái đã bung khỏi ổ khớp. Hắn choáng người khi thấy máu mình loang đỏ cả khoảng nước trước mắt. Cá mập! Máu sẽ gọi bầy cá mập tới trong chốc lát. Bàn tay tử thần đã vươn kề gáy hắn. Không thể chần chừ một phút, hắn dùng hết sức guồng đôi tay với những bắp thịt cuồn cuộn như chão bện bơi về phía con tàu đang bị sóng dập ngả nghiêng. Ý chí mãnh liệt của hắn đã thắng. Hắn được kéo lên tàu trong bộ dạng của một thi hài dập nát. Nếu là người bình thường có lẽ đã ngất lịm đi. Còn hắn, hắn nghiến răng bảo bạn tàu dùng chân dận vào gối hắn. Khục! Chiếc bánh chè được trả về vị trí. Còn cái chân trái gãy lìa lủng lẳng được băng bó tạm thời bằng một cặp nẹp. Hắn bị quẳng trả đất liền trong bộ dạng của một phế nhân. Dân đi biển bảo, số hắn bị biển khơi từ chối…

        Nhưng hắn thì không nghĩ thế. Khi bác sĩ vừa rút chiếc đinh trong ống chân hắn ra sau mấy tháng nằm viện, hắn mang đôi chân tập tễnh nhảy ngay xuống vịnh Cát Bà mở một trạm thu mua hải sản. Trạm của hắn đóng ngay Cửa Phố, còn gọi là Cửa Tử, nơi mà thuyền bè muốn vào được vịnh Cát Bà bắt buộc phải đi qua. Thế nên bao nhiêu tàu cá vừa ngoài khơi về đều được hắn đón lõng. Hắn mua tất cả các loại cá tôm cua ghẹ. Lối mua sang tay, chỉ cần mấy tiếng sau là bán lại cho các lái buôn trong bờ. Thời điểm năm 1998 một chỉ vàng giá chưa đến 500.000đ, vậy mà mỗi ngày hắn kiếm lời tới mấy triệu. Có hôm hắn kiếm được tới 7,5 triệu, tương đương một cây rưỡi vàng. Cửa Tử giống như một miệng cống hứng thuyền bè cập bờ, còn hắn giống như chiếc “đó” đơm tiền thiên hạ. Chỉ hai năm sau hắn mua được đất xây ngôi nhà ba tầng nguy nga ở quê Thuỷ Nguyên cho mẹ ở.

        Nếu cứ bằng lòng với khoản thu nhập đều đặn như thế có lẽ đời hắn bây giờ đã khác. Nhưng tính hắn ưa phiêu lưu. Hắn dốc toàn bộ vốn liếng ra lập một bè cá. Tiền lãi mỗi ngày hắn đều đổ xuống đó. 21 lồng nuôi toàn cá song, loại cá có giá đắt khét lẹt. Một con cá giống nhỏ như chiếc bật lửa có giá 35.000đ. Hắn thả gần 10.000 con. Sau một năm, bầy cá song của hắn mỗi con đã lớn cỡ 5kg. Mỗi kg có giá bán 100.000 đồng. Chỉ tính nhẩm thì bè cá của hắn đã có giá hơn 500 triệu đồng, tương đương 100 cây vàng. Nhiều lái buôn đã ngỏ ý mua tất cả số cá đó. Nhưng hắn đâu có dại. Hắn tính, chỉ cần nuôi thêm vài tháng nữa thì bè cá của hắn sẽ cho ra tiền tỉ.

        Nhưng người tính không bằng trời tính.

        Cơn bão số 6 với sức gió mạnh cấp 9 sầm sập đổ vào vịnh Bắc bộ. Ở Cát Bà, chiếc tàu của Đồn biên phòng 54 đã chạy đôn đáo khắp mặt vịnh vận động mọi người đi tránh bão. Nhìn bầu trời còn quang đãng, nhìn mặt vịnh còn êm đềm, những ngư dân đã cười vào bản tin dự báo thời tiết của Đài tiếng nói Việt Nam. Và thái độ chung của các chủ bè là bất tuân mệnh lệnh. Hắn cũng thế. Hắn bày rượu ra sàn bè ngồi uống, vuốt bộ râu quai nón ngắm nghía biển trời. Quan hệ giữa bộ đội biên phòng với các chủ bè cá vốn không mấy mặn mà, nay bị cơn bão làm cho thêm xa cách. Công việc buôn bán, chăn nuôi đang phát đạt, thế mà lại bị “quấy nhiễu” thì khó chịu lắm. Những người bị cưỡng chế rời bè đã buông những lời rất khó nghe: “Đến cường hào ác bá ngày xưa cũng không ác bằng các ông!” Bị vặc lại những câu như thế, vậy mà những cán bộ biên phòng vẫn mềm dẻo nhưng cương quyết, thuyết phục được hầu hết chủ bè kéo sang tránh bão ở vụng Bèo.

        Chỉ còn chiếc bè cuối cùng: Bè của Huân.

        Huân vẫn điềm nhiên uống rượu nhìn những bè cá di cư cười khẩy. Khi tàu biên phòng tới, Huân ngồi vuốt bộ râu quai nón trên khuôn mặt ngang tàng, thủng thẳng: “Các ông có uống rượu thì vào. Còn bắt tôi tránh bão thì…quên đi! Cái khoản bão biếc thì các ông làm sao biết bằng tôi. Tôi đi biển từ ngày dái bằng hạt kê, tôi biết, trời này thì chỉ bão cấp 6 là cùng.”

        Người chỉ huy tàu biên phòng là một đại uý, tấm biển ghi tên Phạm Ngọc Đua. Cả ngày vật lộn với những cuộc vận động, Đua đã mệt lắm rồi. Nhưng trước thái độ ngang ngược của Huân, Đua đành phải hạ giọng tình cảm: “Thuê tàu kéo bè sang vụng Bèo, giá bằng 2 con cá song thôi. Ông muốn mất 2 con hay muốn mất tất?”

        Huân nâng ly rượu khề khà: “Tiền bạc đối với tôi không quan trọng…”

        Hắn bỏ lửng câu nói với một vẻ mặt đầy ngạo nghễ. Cái ngạo nghễ của kẻ đã từng vào sinh ra tử, coi thường tất cả. Trong con mắt của Huân lúc ấy thì trời chỉ bé bằng… cái đĩa, đại dương chỉ  nhỏ như…vũng trâu đằm!

        “Ông phải rời bè! Chúng tôi làm nhiệm vụ theo lệnh của Thủ tướng Chính phủ!” - Đại uý Phạm Ngọc Đua bắt đầu nghiêm giọng.

        “Tôi không rời thì các ông làm gì được tôi?”

        Bão đã bắt đầu gào rú. Mặt vịnh đã nổi sóng cồn. Con tàu của Đồn biên phòng 54 đã bắt đầu chao đảo trong sóng lớn. Không thể chần chừ được nữa. Đôi co mãi với gã đàn ông say rượu không khéo tàu của mình cũng chìm. Ngả nghiêng trên những con sóng dữ, Đua hỏi như gào: “Vợ con ông đâu rồi?” - “Tôi gửi… vào bờ… từ sáng rồi…” - Huân trả lời bằng cái giọng say ngọng líu.

        Không thể thuyết phục được gã đàn ông ngoan cố, Đua cho tàu quay mũi vào bờ. Nhưng đi được một đoạn anh chợt giật mình cho tàu quay trở lại. Đua linh cảm có một cái gì đó bất an từ chiếc bè của Huân.

        Trời đã đổ mưa lớn. Anh nhảy phắt xuống bè, sục vào trong buồng ngủ. Anh kéo tấm chăn trên giường ra... Một người đàn bà và hai đứa con nhỏ đang ôm nhau nằm rúm ró. Bất chấp tiếng quát nạt của gã say, Đua trùm tấm áo mưa lên người hai đứa nhỏ bế thốc sang tàu. Người đàn bà vẫn cố trì níu đòi được ở lại bè cùng chồng, nhưng cuối cùng cũng được các chiến sĩ kéo đi. Đứng chống nạnh trên bè, Huân gào với theo chiếc tàu biên phòng một câu hăm doạ: “Rồi tôi sẽ nói chuyện với các ông!”

        Chưa bao giờ người dân ở Cát Bà chứng kiến một cơn bão mạnh đến thế. Những con sóng cuồng nộ dội ầm ầm vào vịnh. Một vùng sơn thuỷ hữu tình bỗng chốc nhuốm màu tang tóc thê lương. Suốt một đêm tàn phá, gần sáng cơn bão mới nguôi. Sáng sớm hôm sau tàu của Đồn biên phòng 54 chạy ra tìm kiếm thì chỉ thấy những mảnh vỡ thuyền bè nổi lập lờ trên sóng. Ai cũng nghĩ là Huân đã chết. Nhưng một lần nữa hắn thoát khỏi bàn tay thuỷ thần.

        Khi chiếc bè cá được gia cố bằng những thanh gỗ táu chắc chắn của hắn bị sóng giật tung, bóp vụn, trong tích tắc Huân không còn nơi bám víu. Nhưng khá khen cho bản lĩnh cùng kinh nghiệm biển khơi của Huân. Hắn đã vớt những miếng xốp trôi trên vịnh nhét vào trong áo. Và khi ngọn sóng như một quả núi chồm lên chiếc nhà bè xoá sổ những gì còn lại, hắn đã chụp vội được chiếc phích trước lúc bị cuốn đi. Trong những trận dập dồi của nước, nếu là người thường thì chỉ được vài phút là bị sóng đánh cho ộc máu mồm mà chết. Còn hắn, hắn khôn lanh lắm! Mỗi khi có con sóng lớn chồm tới, hắn bình tĩnh lặn xuống tránh đòn. Khi ngoi lên hắn dốc nước trong phích ra, úp xuống làm chiếc phao cứu sinh bất đắc dĩ. Hắn vẫn đủ tỉnh táo để bơi xa những ngọn núi dầm mình trong vịnh để khỏi bị sóng quật vào đá tan thây.

        Suốt một đêm bị sóng nhồi cho tơi tả, gần sáng thì hắn tấp được vào bãi cát. Sóng đã lột sạch của hắn, kể cả những mảnh vải trên người. Trần truồng, lẩy bẩy, hai tay ôm hạ bộ, hắn cóm róm bước vào trạm chế biến hải sản gần đó xin một bộ quần áo, một bát cơm, rồi thất thểu đi tìm vợ con.

        Tại Đồn biên phòng 54, hắn đã khóc nức lên khi nhìn thấy vợ con hắn vẫn bình yên. Đến lúc ấy hắm mới biết, cùng với vợ con hắn là mấy chục phụ nữ trẻ em khác được các chiến sĩ biên phòng đưa từ vịnh Cát Bà vào đồn tránh bão. Vợ hắn, sau một đêm vật vã khóc than cầu trời khấn Phật, giờ mừng đến nghẹn lời khi thấy hắn trở về. Vợ chồng con cái hắn ôm chầm lấy nhau, mặc cho nước mắt tuôn tầm tã…

        Sau bão, từ tỉ phú Huân trở thành tay trắng. Bão tố đã dạy cho hắn một bài học, cho hắn ý thức được rằng, con người dẫu có bản lĩnh, khí phách bao nhiêu thì vẫn là những sinh linh nhỏ nhoi trước thiên nhiên. Bão tố đã gột cho hắn bớt cái tính ngang ngạnh, nhưng bão tố không thể dập tắt được khát vọng làm giàu luôn cháy ngùn ngụt trong hắn. Hắn quyết định làm lại từ đầu. Hắn vay tiền ngân hàng gây lại bè cá. Chỉ khác là hắn không còn dám mạo hiểm phiêu lưu nơi Cửa Tử nữa.

        Chiều trên vụng Bèo yên ả. Những nhà bè san sát trên mặt vụng dưới những dãy núi đá vôi tạo thành một vòng cung ngăn phong ba. Từ ngày về đây, vợ chồng Huân không còn cái cảnh tất bật tối ngày, mà chí thú cho bè cá 21 lồng nuôi đủ loại cá ngon... Huân vục tay bốc một vốc cá con tung xuống lồng. Một đàn cá song như những quả đạn pháo bóng nhẫy lao vút lên đớp mồi pằm pặp.

        “Cứ hai ngày bè nhà tôi phải tốn một triệu tiền thức ăn cho cá. - Huân nói bằng giọng tự hào. - Tôi đang tính bán bớt một lồng lấy tiền trả nốt 30 triệu nợ ngân hàng và mua thức ăn cho cá. Với giá cá như hiện nay thì chỉ ba tháng nữa thôi bè cá của tôi sẽ có giá trên bạc tỉ.”

        Ở vụng Bèo không có cảnh mua bán chụp giật như nơi Cửa Tử, chỉ có những con thuyền nhỏ chèo tay chở những mặt hàng phục vụ sinh hoạt bơi khoan thai đến từng bè. Huân sai vợ “kiếm cái gì đó để tiếp nhà báo coi!”. Chị Hương, vợ Huân, nhoáng một cái đã bê lên một đĩa tôm tít luộc đỏ rộm cùng chai rượu thuốc. Huân ngồi xấp bằng, chân khoèo bắt chéo vào cái thẳng tạo nên một thế ngồi vững chãi. Khuôn mặt vuông vức với bộ râu quai nón đầy nam tính đã ánh lên vẻ thảnh thơi. Người đàn ông ngang tàng phóng túng giờ đây đã trở nên điềm đạm. Trong bữa rượu bồng bềnh nơi sơn thuỷ hữu tình, Huân kể như phơi bày gan ruột về quá khứ, về những dự định lớn lao cho tương lai. Trong câu chuyện, cái được Huân nhắc đến nhiều nhất là mối quan hệ của mình với “tay sĩ quan biên phòng” Phạm Ngọc Đua. Sau cơn bão định mệnh ấy, Đua đã đứng ra xin giấy phép định cư cho gia đình Huân được đóng bè ở vụng Bèo này. Nơi đây gần bờ, tiện cho hai đứa con của Huân đi học. Đứa con gái của Huân đã được học chung với thằng con trai của Đua. Hai đứa trẻ cũng góp phần làm cho tình cảm hai gia đình thêm khăng khít.

        “Ngày trước tôi có coi mấy ông bộ đội biên phòng là cái gì đâu. Nhưng sau trận bão thì tôi đã nghĩ khác. Nếu tay Đua hôm đó không cương quyết thì vợ con tôi đã chết. Mà vợ con đã chết thì mình sống còn có ý nghĩa gì nữa? Tôi khắc cốt ghi tâm cái ngày 30-7- năm 2005, ngày âm là 20 tháng 6. Đấy là ngày tôi mang cái ơn cứu tử của anh Đua.”

        Tôi ngồi ngắm Huân. Một người đàn ông dạn dày sóng gió nên có vẻ già trước tuổi. Huân đã thấm những lẽ đời, luật trời luật biển.

        “Tôi nghiệm ra rằng, trời công bằng lắm! Những gì trời cho dễ dàng thì trời cũng lại lấy đi thôi…”

        Chị Hương đang thoăn thoắt nấu nướng cũng ghé vào góp chuỵên: “Sau trận bão, anh Huân nhà em điềm tính hẳn đi. Trước thì hay gây sự lắm. Chả nể nang một ai. Ngay cả mấy anh biên phòng anh ấy cũng coi chả ra gì.”

        Huân có vẻ thẹn với lời vợ nói, vội nâng li rượu lên làm một tợp: “Ừ thì mẹ mày nói đúng. - Huân quay sang tôi:- Nhà báo ạ! Ở đời gặp nhau nó là cái duyên. Tôi và anh Đua đúng là có duyên. Trước tôi cứ nghe đài hát “rằng qua cơn hoạn nạn mới hiểu được lòng nhau”, tôi chả hiểu là mấy. Nhưng sau trận bão ấy thì tôi thấm. Vợ chồng tôi dự định mai này khấm khá, mỗi năm tới ngày 30 tháng 7 sẽ làm một bữa tiệc thật to để mời anh em biên phòng cùng chúng tôi ôn lại một kỉ niệm. Kỉ niệm hãi hùng nhưng mà có ý nghĩa.” 

        Mải nói chuyện, chúng tôi không biết trăng lên tự bao giờ. Cả vụng Bèo nhuốm một màu huyền ảo kì vĩ và thơ mộng…

Đ.T.T